Câu chuyện người lữ khách Đà Lạt

Người lữ hành cô đơn

Tôi gặp và quen một chú “Tây ba lô” người Pháp tên là Pierre một cách tình cờ. Khoảng 3 giờ chiều năm ngoái, anh đạp xe từ Biên Hòa lên Đà Lạt, khi leo hết đèo Bảo Lộc bị thủng lốp nên dừng lại đầu đèo nhờ vá hộ. Lúc ấy tôi đang ngồi “buôn dưa lê…” trong quán, nhìn thấy anh ta vừa nói vừa ra hiệu bằng tay với người chủ ven đường một cách tội nghiệp. Có lẽ do đạp xe cả quãng đường dài nên gương mặt của anh chuyển sang gam màu nắng cháy, giàn giụa mồ hôi kết cùng bụi đất. Chắc là anh đói và mệt nên âm sắc trở nên thều thào đến mức thảm thương. Trong thời gian chờ đợi, anh mang ra hai chiếc bánh chưng đã bắt đầu khô lá, ngồi bệt xuống đất bóc vỏ ra ăn ngon lành, sau đó mở chai nước Lavie đổ ồng ộc vào miệng, rồi ngồi bó gối nhìn ra đường một cách vô hồn như con khỉ già đang ốm. Đến khi trả tiền, người vá xe đòi 20 ngàn, cao gấp 2 lần dân địa phương nên Pierre không đồng ý.

Anh tỏ thái độ vùng vằng, buông một tràng dài tiếng Anh giọng Pháp. Người vá xe đầu đèo đứng dậy giải thích tiếng Việt, nhưng không ai hiểu ai. Cuối cùng tôi phải đứng ra làm người hòa giải. Pierre há mồm nhìn tôi, khi phát hiện ở vùng sơn nguyên heo hút này lại có người nói được tiếng Pháp, vì đã khá lâu rồi ở Việt Nam, tiếng Anh gần như là ngôn ngữ chính trong việc giao tiếp quốc tế thường ngày. Đối với người Pháp, họ thường tỏ ra lịch lãm hào hoa khi gặp được người mình trân trọng. Nên sau chuyện đầu đèo, Pierre lịch sự mời tôi về Bảo Lộc ăn tối, uống cà phê như một sự trả ơn và luôn tiện nhờ tôi định hướng để tìm một ngôi nhà nằm ở góc đường Đà Lạt.

Pierre 26 tuổi, cao khoảng 1.75m, mắt đen như dân châu Á. Anh có thân hình cao gầy, gương mặt xương xương hiện rõ sự thông minh và tính tự lập của một thanh niên Pháp tiêu biểu. Pierre cho biết, anh vừa tốt nghiệp thạc sĩ ngành Xã hội học tại Nhật, ngoài tiếng Pháp là ngôn ngữ mẹ đẻ anh còn sử dụng thông thạo hai ngôn ngữ khác là Anh và Nhật, đang trên lộ trình từ Singapore, Mã Lai, Thái Lan, Campuchia rồi sẽ dừng chân 3 ngày tại Đà Lạt bằng xe đạp. Nghe anh kể cuộc viễn hành kết hợp với gương mặt phủ đầy nắng gió tôi tin là anh nói thật. Cách đây vài tiếng đồng hồ, Pierre ngơ ngác nhìn khi nghe tôi nói bằng tiếng mẹ đẻ của anh và bây giờ tôi lại tròn xoe mắt, được biết Đà Lạt là quê hương của một người Pháp.

Xem bài viết: tươi tắn hồng Đà Lạt

Trong đời thường, bất ngờ luôn vẫn là sự kiện mới, gây ra cảm giác ngạc nhiên thú vị. Pierre mở Ipad hiện lên 10 tấm ảnh Đà Lạt xưa, được chụp vào khoảng trên dưới 60 năm. Nhìn những tấm ảnh trắng đen sắc cạnh hơn nửa thế kỷ trước tôi không khỏi ngậm ngùi. Đà Lạt ngày ấy đầy hoa dại, đầy thông với những căn nhà tranh lèo tèo như tấm thảm thực vật chạy dài xa tít và thông qua hình tư liệu này, tôi lại nhận ra Đà Lạt 70 năm trước không giống khu thị tứ mà dường như là những đồi cỏ dợn sóng, trong đó cây thông là loại cỏ khổng lồ đứng chơ vơ, có nơi thành rừng lồng lộng dưới trời xanh mây trắng. Pierre chỉ một biệt thự nhỏ mang kiến trúc Normandie nằm cạnh góc đường nói với tôi đây là căn nhà của ông bà nội mà anh ngỏ ý nhờ tôi tìm hộ.

Tham khảo khu nghỉ dưỡng mới núi Hoa Đà Lạt

Tôi không phải là dân gốc Đà Lạt, nhưng với nghề phiên dịch, tôi đến thành phố này hàng trăm lần, đã từng lang thang một mình trên những con đường bậc thang cao thấp, nhưng không thể xác định được vị trí ngôi nhà trên màn hình Ipad. Pierre không trách tôi về trí nhớ, sáu bảy mươi năm còn gì, bụi thời gian rồi những cuộc chiến tranh vệ quốc liên tiếp từ các thời Pháp – Nhật – Mỹ, cộng với sự phát triển cơ học của con người nên khó có thể giữ được hình ảnh xưa từ một thời xa vắng. Anh có vẻ đăm chiêu phảng phất nỗi buồn, ngả người trên ghế đưa mắt nhìn về đỉnh Sa Pung trên dãy núi Đại Bình mờ ảo trong chiều hoàng hôn tím rịm.

Vốn từ tiếng Pháp của tôi không nhiều. Vì vậy tôi xin chuyển sang tiếng Anh, với hy vọng có thể kể cho Pierre câu chuyện mang hoài niệm đời người của một Việt kiều xa xứ. Đó là chuyện tìm nhà của ông Lê Văn Hộ, giáo sư sử học tại Vương quốc Anh vào thập niên 60-70 của thế kỷ trước. Ông Hộ là người Hà Nội gốc, sau gần 40 năm sống ở nước ngoài trở về tìm lại ngôi nhà xưa của ông bà nội. Trên đường về nước, ông không thể tưởng tượng di sản của dòng tộc còn hay đã mất. Nếu còn là kỷ niệm đời người, ông có cơ may nhìn lại dấu tích nơi ông đã sinh ra và lớn lên từ thời thơ ấu, mà nếu mất đi cũng là điều đáng mừng, vì đất nước nào cũng phải thay áo mới cho vừa vặn với tầm vóc phát triển của mình.

Nhưng cuối cùng điều mong đợi đã mỉm cười với ông, có nghĩa là ngôi nhà xưa vẫn còn nguyên vẹn, tuy đã nhiều lần đổi chủ. Ông Hộ xin phép người chủ mới vào ôm cây cột gỗ trong nỗi ngậm ngùi. Kể từ lúc lên tàu vào Nam sau Hiệp định Genève bốn mươi năm rồi còn gì. Hình ảnh một thời xa ngái hiện về, con đường xưa với cây sấu già đầu ngõ rợp lá vàng bay, nay vẫn còn đứng đó tuy lớp vỏ trở nên sần sùi vì trải qua nhiều mùa mưa nắng. Nhưng ông lại cảm thấy buồn vì đã bao năm quê mình vẫn thế! Sau ngày Nhà nước đổi mới ông Hộ có về lại. Lần này nước mắt ông chảy ra, không phải vì mất đi kỷ niệm, mà khóc vì sự vui mừng. Ngôi nhà xuống cấp ngày xưa gần như đang từng ngày chuyển sang hoang phế đã trở thành phố xá cao tầng sầm uất, nhộn nhịp người xe. Việc ấy cũng cho thấy rằng, nước mắt đời người chưa hẳn là một nỗi đau, có khi vui mừng vì sự thành công hoặc trước sự phát triển mang tầm vóc quốc gia ngay tại quê mình người ta cũng khóc

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *